"Các nghiên cứu trước đây của chúng tôi đã chứng minh rằng việc kết tủa sợi lọc hoạt tính sinh học bằng tinh dầu cây tràm trà (TTO) giúp đem lại hiệu quả nhanh chóng và làm bất hoạt các hạt vi khuẩn và nấm bị bắt bề mặt bộ lọc. Mục đích chính của nghiên cứu này là nghiên cứu hoạt động chống vi-rút của hai chất khử trùng tự nhiên, đó là tinh dầu tràm trà (TTO) và tinh dầu khuynh diệp (EUO), chống lại vi-rút cúm bắt trên bề mặt bộ lọc. Người ta thấy rằng cả hai loại tinh dầu được thử nghiệm đều có đặc tính chống vi rút mạnh khi được sử dụng làm vật liệu phủ sợi, có khả năng vô hiệu hóa các vi sinh vật bị bắt trong vòng 5 phút 10 phút tiếp xúc trên bề mặt sợi. Hoạt tính chống vi-rút của TTO cũng đã được thử nghiệm thành công ở dạng aerosol bằng cách trộn các hạt virus trong không khí khả thi với các giọt tinh dầu trong buồng khí dung quay. Các kết quả có vẻ rất hứa hẹn cho sự phát triển hơn nữa của các quy trình và công nghệ khử hoạt tính của virus đối với các ứng dụng để đem lại không khí chất lượng."

Giới thiệu chung

Có một số phương pháp công nghệ có sẵn để khử trùng vi khuẩn. Chúng bao gồm phân hủy quang xúc tác của vi khuẩn trên bề mặt oxit titan được chiếu xạ bằng tia cực tím (UV; Vohra et al. 2006 ; Grinshasta et al. 2007 ), phân hủy nhiệt dựa trên bức xạ hồng ngoại (Damit et al. 2011 ), sử dụng hóa chất được tiêm trực tiếp vào chất mang không khí hoặc áp dụng lên bề mặt bộ lọc (Pyankov et al. 2008 ; Huang và cộng sự 2010 ), và các loại khác. Trong số nhiều loại chất khử trùng khác nhau, một số loại tinh dầu tự nhiên có vẻ hứa hẹn do tính chất thấp hoặc không độc hại, đặc biệt là ở dạng pha loãng (Carson et al. 2006). Trong thập kỷ qua, một loạt các loại tinh dầu từ thực vật đã được sàng lọc để đánh giá hoạt động kháng khuẩn của chúng (Reichling et al. 2009 ).

Việc sử dụng tiềm năng của các loại tinh dầu, như tinh dầu cây tràm trà (TTO) và tinh dầu khuynh diệp (EUO), như chất khử trùng đã được thể hiện rõ trong các nghiên cứu in vitro (nghiên cứu trong phòng thí nghiệm) gần đây về kháng khuẩn (Wilkinson và Cavanagh 2005 ; Carson et al. 2006 ; Salari et al. 2006; ; Hayley và Palombo 2009 ), thuốc chống nấm (Hammer và cộng sự 2000 ; Oliva và cộng sự 2003 ), và các hoạt động chống vi-rút (Schnitzler et al. 2001 ; Cermelli et al. 2008 ; Garozzo et al. 2011;). Ngoài ra, người ta đã chứng minh rằng các loại tinh dầu là hỗn hợp không đồng nhất, với sự thay đổi đáng kể theo lô thành phần, tùy thuộc vào điều kiện sinh trưởng tại các đồn điền (Kawakami et al. 1990 ; Moudachirou et al. 1999 ). Hoạt tính kháng khuẩn của TTO được quy cho chủ yếu là terpinen-4-ol (35-45%) và 1,8-cineole (1-6%); tuy nhiên, các thành phần khác như a-terpineol, terpinolene và a- và c-terpinene cũng thường xuất hiện và có khả năng góp phần khử trùng vi khuẩn (May et al. 2000 ). EUO từ các loài Bạch đàn khác nhau chứa 1,8-cineole, a-pinene và a-terpineol là các hợp chất phổ biến chính (Jemâa et al. 2012). Một EUO được phân loại dược phẩm thường được làm giàu tới 70% nồng độ 1,8-cineole.

Gần đây, chúng tôi đã đề xuất một công nghệ dựa trên các bộ lọc sợi phủ của TTO và báo cáo kết quả nghiên cứu khả thi về khử trùng vi khuẩn (Pyankov et al. 2008 ) và bào tử nấm (Huang và cộng sự 2010 ). Trong các nghiên cứu này, TTO đã được sử dụng làm cả hai, phương tiện tăng cường hiệu quả lọc và chất khử trùng trên các sol khí vi khuẩn và nấm thu được trên bề mặt bộ lọc. Xem xét mối quan tâm mạnh mẽ hiện nay đối với nghiên cứu liên quan đến cúm, nghiên cứu hiện tại là sự tiếp tục hợp lý của các nghiên cứu trước đây của chúng tôi với trọng tâm là đánh giá hoạt tính chống vi-rút của tinh dầu (TTO và EUO) về việc vô hiệu hóa vi-rút cúm trong không khí.

Chuẩn bị các loại tinh dầu

Ba loại tinh dầu đã được sử dụng trong nghiên cứu hiện tại để đánh giá tỷ lệ sống sót của virus cúm dưới ảnh hưởng của chất khử trùng và vật liệu không hoạt tính sinh học. TTO và EUO được chọn là vật liệu chống vi rút có khả năng hoạt động (Schnitzler et al. 2001 ). Dầu khoáng nhẹ (LMO) được chọn làm đối chứng âm do tính chất không hoạt động sinh học của nó (Cat.: M3516, Sigma Chemicals, MO, USA).

Tinh dầu Tràm trà TTO (Felton Grimwade & Pty. Ltd. Bosisto của, Oakleigh Nam, Úc) có nguồn gốc từ loài Melaleuca alternifolia (xuất xứ từ New South Wales, Úc). TTO có bản chất đa thành phần và thường được coi là có độc tính thấp (Carson et al. 2006 ), đặc biệt ở dạng pha loãng. Tinh dầu Khuynh Diệp EUO (Felton Grimwade & Pty. Ltd. Bosisto của, Oakleigh Nam, Úc), có nguồn gốc từ Eucalyptus polybractea (Blue Mallee), chứa hơn 70% cineole (Eucalyptol), cũng được sử dụng trong các thí nghiệm. Tất cả các loại tinh dầu có tỉ trọng (0,86-0,91 g/cm3) và độ nhớt (2.2-4.6 cP), đảm bảo hành vi vật lý tương tự khi được áp dụng trên bề mặt bộ lọc, chỉ để lại hoạt động sinh học để so sánh kết quả.

Kết quả về tính diệt virus

kết quả thử nghiệm tinh dầu tràm trà diệt virus

Hoạt tính chống vi-rút của các hợp chất thử khí dung được nghiên cứu trong loạt thí nghiệm với vi-rút được nạp lên bề mặt bộ lọc. Ở các điều kiện được thử nghiệm, việc sử dụng TTO đã cho thấy sự bất hoạt hoàn toàn của virus. Như được thấy trong Hình trên, sự hình thành mảng bám của virus đã bị ức chế hoàn toàn (ngay cả trong thời gian tại điểm 0). So sánh với kết quả sử dụng EUO, lần cuối cùng cho thấy tác dụng chống vi rút mạnh, nhưng hiệu quả thấp hơn. LMO sử dụng không cho thất hoạt động chống vi-rút nào, vì nó có xu hướng tương tự như sự phân rã virus với trường hợp không có tinh dầu. Tiếp tục tất cả những điều trên, hai loại tinh dầu đã sử dụng sở hữu hoạt tính chống vi rút mạnh ở các điều kiện được thử nghiệm. Những loại dầu này có thể được sử dụng thành công như chất khử trùng hiệu quả trong các ứng dụng lọc bioaerosol.

Ngoài ra, nghiên cứu hiện tại đã đánh giá hoạt tính chống vi-rút của tinh dầu ở dạng khí dung. Một cách hợp lý, TTO hiệu quả hơn đã được sử dụng trong loại đánh giá như vậy. Như đã được tìm thấy ở dạng aerosol, TTO sở hữu tác dụng chống vi rút mạnh cũng như trên bề mặt bộ lọc.

Nồng độ của vi rút khí dung trong tất cả các thí nghiệm được giữ ở mức tối đa có thể đạt được bằng hiệu giá vi rút tương đối cao trong huyền phù ban đầu được chuẩn bị cho quá trình khí dung (∼10 7,5 / mL). Việc sử dụng dòng bioaerosol đậm đặc cho phép thu được hơn 10 3 virion bằng 1 mL chất lỏng thu thập (thay đổi một chút trong các thí nghiệm khác nhau), tạo cơ hội đánh giá hiệu quả của quá trình trong ba bậc độ lớn, cho phép xác định hiệu quả khử hoạt tính ở mức trên 99,5%.

Những phát hiện này có vẻ rất hứa hẹn cho việc thực hiện các chất thơm như vậy trong các ứng dụng lọc để kiểm soát các bioaerosol có hại và cải thiện hơn nữa chất lượng không khí trong nhà. Loại tinh dầu như vậy có thể được sử dụng thành công như chất khử trùng hiệu quả chống lại nhiều loại vi sinh vật cũng như ở dạng khí dung như ở dạng chất lọc.

Theo bài nghiên cứu của các tác giả Oleg V. Pyankov, Evgeny V. Usachev, Olga Pyankova & Igor E. Agranovski.

Tìm hiểu bài nghiên cứu tại đây: Inactivation of Airborne Influenza Virus by Tea Tree and Eucalyptus Oils, Oleg V. Pyankov, Evgeny V. Usachev, Olga Pyankova, and Igor E. Agranovski; Griffith School of Engineering, Griffith University, Brisbane, Queensland, Australia.

► Tham khảo dung dịch nước rửa tay từ tinh dầu tràm trà tại đây!

-OKING VIỆT NAM-